
Trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng khá rộng rãi trong các trường đại học và viện nghiên cứu Nga, nhưng quy định nội bộ lại phát triển chậm hơn đáng kể. Một khảo sát mới của Đại học Nghiên cứu Quốc gia – Trường Kinh tế Cao cấp (HSE) cho thấy chỉ 14% đơn vị được hỏi đã ban hành văn bản chính thức xác định chính sách đối với AI.
Khảo sát được Viện Nghiên cứu Thống kê và Kinh tế Tri thức thuộc HSE thực hiện trong tháng 5–6/2026 với lãnh đạo các trường đại học công lập, viện nghiên cứu và những cán bộ quản lý phụ trách hoạt động khoa học. Tổng cộng có 424 đơn vị tham gia, gồm 250 trường đại học và 174 viện nghiên cứu.
Trong số này, chỉ 60 đơn vị, tương đương 14%, cho biết đã thông qua các quy định, quy chế, đề án hoặc văn bản tương tự xác định chính sách đối với AI. Có tới 72% chưa có những văn bản như vậy, trong khi 14% còn lại không đưa ra câu trả lời cụ thể. Đáng chú ý, ngay trong 60 đơn vị đã có quy định, chỉ 35 đơn vị đưa nội dung sử dụng AI trực tiếp trong nghiên cứu khoa học vào văn bản của mình.
Điều này không đồng nghĩa AI ít được sử dụng trong môi trường đại học và nghiên cứu của Nga. Theo một phân tích khác từ cùng khảo sát, 72% trường đại học công lập và viện nghiên cứu cho biết AI đã được ứng dụng trong hoạt động của đơn vị; 62% sử dụng công nghệ này phục vụ nghiên cứu. Đặc biệt, lãnh đạo của 94% đơn vị được khảo sát cho biết nhân viên của họ đã sử dụng AI, dù trong nhiều trường hợp đây vẫn chủ yếu là hoạt động của từng cá nhân thay vì một quy trình được triển khai thống nhất ở cấp tổ chức.

Quan điểm của lãnh đạo các đơn vị nhìn chung cũng khá cởi mở. Có 49% đánh giá tích cực việc nhân viên sử dụng AI cho các mục đích liên quan đến nghiên cứu; 34% cho rằng AI phù hợp với một số nhiệm vụ nhưng không phù hợp với những nhiệm vụ khác. Chỉ 3% thể hiện quan điểm tiêu cực.
Khoảng cách giữa việc sử dụng AI trên thực tế và hệ thống quy định chính thức còn thể hiện ở các hoạt động hỗ trợ. Có 65% đơn vị đã triển khai ít nhất một biện pháp hỗ trợ sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học. Tỷ lệ này ở các trường đại học lên tới 76%, cao hơn đáng kể mức 49% tại các viện nghiên cứu.
Hình thức phổ biến nhất là các buổi hội thảo, gặp gỡ hoặc lớp thực hành ngắn về AI dành cho nhân viên, được 48% đơn vị triển khai. Khoảng 23% đã tổ chức các chương trình đào tạo bổ sung hoặc nâng cao trình độ dài hạn; cũng có 23% đang tự phát triển các mô hình AI phục vụ nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, các hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng nguồn lực còn tương đối hạn chế: 10% có chương trình tài trợ nội bộ cho nghiên cứu sử dụng AI và 6% hỗ trợ các nhóm liên ngành kết hợp chuyên gia AI với chuyên gia ở những lĩnh vực khác.
Một nguyên nhân được HSE đưa ra cho việc các trường đại học triển khai hỗ trợ nhanh hơn viện nghiên cứu là họ có sẵn hạ tầng giáo dục, thuận lợi cho việc tổ chức các chương trình đào tạo. Tuy nhiên, Phó Hiệu trưởng thứ nhất Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman, ông Pavel Drogovoz, cho rằng yếu tố này chỉ giải thích một phần khoảng cách. Theo ông, sinh viên đóng vai trò đáng kể khi bắt đầu sử dụng AI đại trà sớm hơn nhiều giảng viên, khiến các trường phải phản ứng, trước hết bằng quy định đối với khóa luận và đồ án, sau đó bằng hoạt động đào tạo cho cán bộ.
Kết quả khảo sát vì vậy cho thấy một bức tranh khá rõ: AI đã hiện diện trong phần lớn các trường đại học và tổ chức nghiên cứu được khảo sát tại Nga, nhưng quá trình xây dựng quy định chính thức vẫn đang đi sau tốc độ ứng dụng công nghệ. Việc sử dụng AI hiện không chỉ đặt ra câu hỏi về khả năng khai thác công cụ mới trong học tập và nghiên cứu, mà còn về cách các trường xây dựng nguyên tắc sử dụng, chuẩn mực học thuật và cơ chế quản lý phù hợp.
Văn phòng Du học Nga viết nội dung sau khi tham chiếu thông tin từ các nguồn:
- Viện Nghiên cứu Thống kê và Kinh tế Tri thức, HSE: issek.hse.ru/news/1198825189.htm
- Vedomosti: vedomosti.ru/society/articles/2026/09/14/1228467-reglamenti-dlya-neirosetei-utverdili-tolko-14
Bài viết liên quan

Đại học Hàng hải Saint Petersburg hợp tác nghiên cứu vật liệu với Việt Nam
Ngày 2/10/2026, Đại học Kỹ thuật Hàng hải Quốc gia Saint Petersburg (SPbGMTU) công bố thông tin về hoạt động hợp tác…

Hơn 63.000 sinh viên nhập học theo mô hình giáo dục đại học mới
Bộ trưởng Khoa học và Giáo dục Đại học Nga Valery Falkov đã cùng hiệu trưởng 17 trường đại học tham gia…

Nga đặt mục tiêu ít nhất 500 nghìn sinh viên quốc tế vào năm 2030
Nga đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 500.000 sinh viên quốc tế theo học tại các cơ sở giáo…
